Hường đã học luật như thế nào

Được tạo bởi Blogger.

Pages

  • Home
  • Chuyện đi làm
  • Bài tập lớn
  • Tips để học ít điểm cao
  • Học Luật sư
  • Chuyện thường ngày
  • English post
Đề tài: Pháp luật về mua bán nhà ở hình thành trong tương lai và thực tiễn thi hành
Người viết: Trịnh Thị Hường, sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội, MSSV: 392754
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung (em chân thành gửi lời cảm ơn đến cô)
Điểm: 9,6




CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

1.1.         Khái niệm và đặc điểm hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai

1.1.1.  Khái niệm nhà ở hình thành trong tương lai

Khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản hình thành trong tương lai (sau đây viết tắt là HTTTL) theo hình thức liệt kê, theo đó, tài sản HTTTL bao gồm: Tài sản chưa hình thành; tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Nhà ở cũng là một loại tài sản nên khi đáp ứng được các đặc điểm của tài sản HTTTL thì đó cũng là nhà ở HTTTL. Do đó có thể chỉ ra những yếu tố của nhà ở HTTTL như sau:
(i)                Yếu tố vật chất: Đó có thể là nhà ở chưa hình thành hoặc đã hình thành. Nhà ở hình thành tức là đã tồn tại như một thực thể mà mọi người đều có thể nhận dạng, gọi tên và khai thác theo đúng tính năng, công dụng của nó.
(ii)             Yếu tố pháp lý: Nhà ở đó chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể xác lập giao dịch. Đối với các loại nhà ở mà luật quy định chủ thể giao dịch phải đứng tên chủ sở hữu của tài sản được bán, tặng cho, thế chấp… thì sẽ không bao gồm tài sản HTTTL.
(iii)           Yếu tố thời gian: Hai yếu tố trên phải được xét tại thời điểm xác lập giao dịch, nghĩa là nhà ở đã hình thành hoặc chưa hình thành và chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể của giao dịch. Thời điểm xác lập giao dịch chính là thời điểm các bên ký kết giao dịch.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố trên của nhà ở HTTTL, chúng ta có thể rút ra khái niệm cho loại tài sản này như sau: Nhà ở HTTTL bao gồm nhà ở chưa hình thành, đang trong quá trình hình thành và cả nhà ở đã được hình thành tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán, nhưng sau thời điểm giao kết hợp đồng mua bán mới thuộc sở hữu của bên mua.
Theo quy định của khoản 19 Điều 3 Luật Kinh doanh nhà ở năm 2014: Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Như vậy, khái niệm tài sản HTTTL của Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự khác biệt với khái niệm nhà ở và công trình xây dựng HTTTL của Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014. Đó là ngay cả khi nhà ở, công trình xây dựng đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu tại thời điểm chủ thể xác lập giao dịch thì vẫn được coi là tài sản HTTTL. Có thể nói, luật nhà ở và luật kinh doanh bất động sản đã thiết kế khái niệm nhà ở, công trình xây dựng HTTTL dưới giác độ vật chất, còn Bộ luật Dân sự năm 2015 thì xây dựng khái niệm trên dưới giác độ nhà ở là đối tượng của giao dịch nên cần phải được đáp ứng cả hai tiêu chí vật chất và pháp lý (chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho bên mua tại thời điểm xác lập giao dịch mua bán).

1.1.2.  Khái niệm hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai

Chế định pháp luật về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng. Đối với quan hệ mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, giao kết hợp đồng là cách thức cơ bản để thực hiện các giao dịch mua bán giữa bên bán và bên mua. Hợp đồng mua bán là hình thức pháp lý phổ biến thể hiện sự tự do ý chí của các bên trong giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Vì nhà ở là tài sản có giá trị lớn nên việc giao kết hợp đồng giữa các bên phải được thể hiện bằng nội dung các điều khoản của hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, pháp luật về nhà ở lại không đưa ra định nghĩa cụ thể về giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai (hay còn gọi là hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai).
Theo quy định tại Điều 385 và Điều 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" và "Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”
Từ hai khái niệm trên đây ta có thể nhận diện khái niệm về hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai như sau: Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là sự thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai mà bên bán nhằm mục đích kiếm lời. Theo đó, bên bán sẽ bàn giao nhà ở và quyền sử dụng đất cho bên mua khi xây dựng hoàn thành và bên mua phải thanh toán tiền mua nhà cho bên bán theo nội dung do hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật

1.1.3.  Đặc điểm hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai

Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là loại hợp đồng mua bán nhà ở nên trước tiên nó có những đặc điểm pháp lý chung của loại hợp đồng này là:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là một hợp đồng song vụ. Theo đó, bên bán nhà ở và bên mua nhà ở đều có các quyền và nghĩa vụ nhất định, không bên nào chỉ có quyền hoặc chỉ phải thực hiện các nghĩa vụ. Nghĩa vụ của bên này là quyền lợi của bên kia và ngược lại. Khi bên có nghĩa vụ đến hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng không thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận, thì bên có quyền sẽ yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng, thực hiện đủ những cam kết đã thỏa thuận. Tính song vụ còn được thể hiện ở chỗ quyền lợi của bên bán và bên mua chỉ có thể được đảm bảo khi bên mua và bên bán thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tương ứng của mình. Nói cách khác, trong hợp đồng mua bán nhà ở, quyền và nghĩa vụ của bên bán tương ứng với nghĩa vụ và quyền của bên mua. Vì thế hợp đồng mua bán nhà ở luôn phải được lập thành nhiều bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ  một bản để làm cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo quyền và việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thứ hai, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là hợp đồng có đền bù. Tức là, trong hợp đồng, khi bên bán nhà hoặc bên mua nhà đã thực hiện cho bên kia một lợi ích, thì sẽ nhận được từ phía bên kia một lợi ích tương ứng. Điều này hoàn toàn khác với việc chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở trong quan hệ thừa kế, tặng cho nhà ở. Trong hai loại quan hệ này, người chuyển giao quyền sở hữu nhà sẽ không được nhận bất kỳ một lợi ích vật chất tương ứng với giá trị ngôi nhà để lại thừa kế hoặc đem tặng, cho. Còn người tiếp nhận quyền sở hữu nhà ở (người được thừa kế, được tặng cho) không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ tài sản nào đối với người chuyển quyền sở hữu ngôi nhà. Đặc điểm đền bù trong hợp đồng mua bán nhà ở là sự cụ thể hóa của nguyên tắc trao đổi ngang giá trong giao lưu dân sự mà các bên mua và bán đã thực hiện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ tham gia giao kết hợp đồng. 
Thứ ba, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là hợp đồng chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản từ phía người bán cho người mua. Trong quan hệ giao dịch mua bán này, người bán nhà có trách nhiệm chuyển giao nhà hoặc phần nhà ở và quyền sở hữu ngôi nhà hợp pháp đó cho người mua, đồng thời người bán nhà cũng phải chuyển giao quyền sử dụng đất ở có căn nhà đó cho người
Ngoài ra, nhà ở hình thành trong tương lai có những đặc điểm thể hiện tính đặc thù (đối tượng của loại hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai khác hơn so với các loại hợp đồng khác). Vì vậy, ngoài những đặc điểm pháp lý trên hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai còn có nhiều các đặc điểm riêng biệt như:
Thứ nhất, ở thời điểm ký hợp đồng mua bán, đối tượng của hợp đồng chưa được hình thành hoặc đang hình thành. Cụ thể  nhà ở được coi là nhà ở hình thành trong tương lai phải đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng ở thời điểm thực hiện giao dịch về nhà ở đó và có cơ sở xác định nhà ở đó sẽ được xây dựng và hoàn thành trong tương lai.
Thứ hai, đối tượng của giao dịch là nhà ở: Nhà ở thuộc đối tượng của giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai phải là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường.
Thứ ba, nhà ở phải được phép giao dịch. Đây là một trong các điều kiện đối với nhà ở là đối tượng của hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai phải thỏa mãn, nếu không hợp đồng sẽ bị vô hiệu từ thời điểm ký kết. Cụ thể, theo điều 55 luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai nói chung và nhà hình thành trong tương lai nói riêng để có thể được đưa vào kinh doanh là : Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.

Thứ tư, chủ thể tham gia vào hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai phải đáp ứng những điều kiện riêng do pháp luật quy định. Bên bán phải là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản và bên mua phải là đối tượng được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Link tải: https://drive.google.com/drive/folders/1M5_uY4Qv1UinHnnJXrNIkrz0RRTDWZCZ?ogsrc=32

Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét
Đây là phần trình chiếu mình làm cho nhóm mình khi thuyết trình của môn Luật bảo vệ người tiêu dùng. Nội dung đề bài nói về vụ việc Samsung galaxy Note 8 phát nổ và trách nhiệm thu hồi sản phẩm của nhà phân phối tại Việt Nam. 



Mình thả một chiếc link ở đây nhé:
https://prezi.com/p/imnmggzuatmv/

Chúc các bạn học tốt!
Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét


MỞ ĐẦU

Hoạt động khiếu nại và giải quyết khiếu nại hiện nay ngày càng có vai trò quan trọng trong quá chính quản lý hành chính nhà nước, trong việc đảm bảo nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì ý nghĩa quan trọng và cần thiết của hoạt động này, bài tiểu luận xin được tìm hiểu, nhận thức sâu sắc hơn về “ Vai trò của khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước ” 



NỘI DUNG

I) Khái quát chung về khiếu nại và giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước
1. Khái quát chung về khiếu nại
1.1 Định nghĩa
Theo Khoản 1, Điều 2 Luật khiếu nại thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”
1.2 Đặc điểm
- Cơ sở phát sinh khiếu nại là xung đột giữa lợi ích cá nhân, tổ chức với Nhà nước
- Mục đích của khiếu nại là bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích của của người khiếu nại đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xâm hại
- Đối tượng của khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỳ luật cán bộ, công chức của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ảnh hường trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
- Chủ thể có quyền khiếu nại bao gồm: công dân, cơ quan, tổ chức; cán bộ công chức; cá nhân, tổ chức nước ngoài có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan
- Khiếu nại được thực hiện theo thủ tục hành chính được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành
2. Giải quyết khiếu nại
Giải quyết khiếu nại theo Từ điển Luật học của Bộ tư pháp là “ xem xét, xác minh, kết luận và quyết định theo trình tự, thủ tục do luật định các khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, đề nghị xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đưa đơn khiếu nại”
3. Pháp chế
Pháp chế là một khái niệm khoa học có nội dung đa nghĩa mà hạt nhân của nó là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật, một cách tự giác, đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. 
Nếu pháp luật là cơ sở nền tảng để xây dựng pháp chế vừa là công cụ bảo đảm, bảo vệ pháp chế thì pháp chế cũng vừa là điều kiện cho sự tồn tại của pháp luật vừa là căn cứ, cơ sở để củng cố phát triển hoàn thiện pháp luật.

II) Vai trò của khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước
Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong khiếu nại và hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước là một hoạt động pháp lý của nhà nước, trong đó tồn tại hệ thống quy phạm pháp luật khiếu nại hoàn thiện, đồng bộ, phản ánh yêu cầu dân chủ xã hội chủ nghĩa trong việc đảm bảo quyền khiếu nại của công dân được quy định trong Hiến Pháp, đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật khiếu nại phải tự giác, nghiêm chỉnh thực hiện (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng) đúng đắn các quy định của pháp luật khiếu nại, có cơ chế hữu hiệu kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại, của các cơ quan hành chính nhà nước, đấu tranh phòng, chống và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật khiếu nại, nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Từ khái niệm trên có thể xác định nội dung và vai trò hoạt động khiếu nại và giải quyêt khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước trong  pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1. Vai trò của khiếu nại trong việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước
1.1 Khiếu nại đảm bảo quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ pháp luật hành chính
Khiếu nại là một trong những quyền tự nhiên, cơ bản của con người được Hiến pháp nước ta quy định ( Điều 30 Hiếp pháp 2013) Vì vậy khiếu nại được coi là quyền hiến định, quyền dân chủ và hơn thế nữa là quyền để bảo vệ quyền. Quan hệ pháp luật hành chính chính là quan hệ “ quyền lực – phục tùng”, quan hệ bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia. Chủ thể đặc biệt ( cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nước) tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước còn chủ thể thường ( công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại) có nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt.  Vì vậy, quy định về khiếu nại chính là Nhà nước trao quyền cho người dân có hay không việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính bất hợp pháp. 
Theo khoản 1 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ về quyền khiếu nại: “ Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền tỏng cơ quan hành chính nàh nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Xem vài tải bản đầy đủ tại link drive sau: Vai trò của khiếu nại và giải quyết khiếu nại - 8 điểm - Luật Hành Chính
Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét


MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội của nghĩa cùng với mục tiêu phát triển hội nhập cộng đồng kinh tế khu vực và thế giới, cố phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một giải pháp quan trọng của Đảng và Nhà nước trong chủ trương đổi mới và sắp xếp lại khối doanh nghiệp Nhà nước. Xuất phát từ thực trạng kinh doanh kém hiệu quả cũng như yêu cầu bức thiết của nền kinh tế xã hội, sự chuyển đổi này là một điều tất yếu. Từ thực trạng đã và đang diễn ra trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thiết nghĩ chúng ta cần nhìn lại những giai đoạn đã qua, đồng thời nhìn nhận và đưa ra những giải pháp, phương hướng cho những giai đoạn tiếp sau. Vì vậy, bài tiểu luận xin chọn đề tài: “Cố phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa tại Việt Nam”



NỘI DUNG

I) Những lý luận cơ bản về cố phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa tại Việt Nam
1. Công ty cổ phần (CTCP)
1.1 Khái niệm:
Công ty cổ phần là một công ty đối vốn trong đó các thành viên có cổ phiếu và chỉ chịu trách nhiệm trong số vốn mà họ đã góp.
1.2 Đặc điểm:
- Công ty có tư cách pháp nhân độc lập
- Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ phần được xác định bằng chứng khoán được gọi là cổ phiếu. Công ty cổ phần được phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu
- Các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp
- Chuyển nhượng vốn góp một cách tự do. Các cổ phiếu không ghi tên được chuyển nhượng một cách tự do. Các cổ phiếu ghi tên được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của hội đồng quản trị.
- Quản lý công ty do hội đồng quản trị và giám đốc điều hành theo hình thức đại hội cổ đông, quyết định theo đa số

2. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Điều 4, khoản 22 và khoản 1 Luật DNNN năm 2005 quy định: “DNNN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh  trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”

3. Cổ phần hóa (CPH)
3.1 Khái niệm
Cổ phần hóa diễn ra ở các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các DNNN. Cổ phần hóa theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các hình thức tổ chức kinh doanh khác sang hình thái công ty cổ phần.
Cổ phần hóa DNNN chính là quá trình chuyển đổi toàn bộ những DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần. CPH DNNN gắn liền với việc DNNN chuyển sang hoạt động dưới tên công ty và luật CTCP, không còn là DNNN nữa.
3.2 Hình thức tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hoá DNNN có thể tiến hành theo hình thức như: 
- Giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Hình thức này nhằm thu hút vốn ngoài xã hội đầu tư, phát triển, tăng vốn hoạt động.
-  Bán toàn bộ phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. hình thức này được áp dụng cho những DNNN thuộc đối tượng mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần. 
- Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần, tức là Nhà nước không còn nắm giữ cổ phần tại công ty

II) Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – chủ trương, thực trạng và giải pháp
1. Chủ trương và thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
• Giai đoạn khởi đầu cổ phần hóa DNNN (1990-1995)
Chủ trương CPH DNNN đã được chính phủ nêu ra trong quyết định 217/HĐBT: “Bộ tài chính nghiên cứu và cho tổ chức làm thử việc mua bán Cổ phần ở một số xí nghiệp và báo cáo kết quả lên Chính phủ vào cuối năm 1988”. Tuy nhiên, điều kiện cụ thể lúc bấy giờ vẫn còn là chế độ bao cấp đối với các Doanh nghiệp Nhà nước nên việc thực hiện cổ phần hóa các Doanh nghiệp này không thành công. 
Đến năm 1990, Chính phủ ra quyết định 143/HĐBT trong đó có nội dung: “Nghiên cứu và làm thử việc chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần”. Lúc đó lại chưa có luật công ty và sự thiếu thống nhất về quan điểm nên quyết định này cũng không thể thực hiện được. Sau đó, nhà nước chủ trương làm thí điểm tại một số doanh nghiệp. Sau 4 năm triển khai thực hiện, cả nước chỉ CPH được 5 doanh nghiệp bao gồm: 3 doanh nghiệp Trung ương và 2 doanh nghiệp địa phương. Đã có hơn 30 DN đã đăng ký với Bộ tài chính để thí điểm thực hiện cổ phần hóa và 3 DN xin chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn những kết quả không đáng khả quan.

Xem và tải bản đầy đủ ở link drive sau: Cố phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa tại Việt Nam - 8 điểm
Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét


MỞ ĐẦU

Sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể với những con số ấn tượng. Đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, thị trường bán lẻ Việt Nam được nhìn nhận là một thị trường đầy tiềm năng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp. Theo đánh giá, trong tương lai thị trường này sẽ còn phát triển hơn nữa. Tuy nhiên đi cùng với sự phát triển là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước và các tập đoàn phân phối hàng đầu thế giới để giành thị phần trên mảnh đất màu mỡ này. Do đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Tìm hiểu về thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay”, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cơ sở lý luận của bán lẻ, thực trạng và đưa ra một số phương hướng cho thị trường bán lẻ ở Việt Nam



NỘI DUNG

I) Cơ sở lý luận về thị trường bán lẻ
1. Định nghĩa:
Bán lẻ được hiểu là hoạt động kinh doanh bằng cách mua hàng hóa với số lượng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình.
Theo điều 3, Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định:
“Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng”. “Cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở hữu của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ”
2. Đặc điểm:
Hàng hóa được bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng. Hàng hóa sau khi được trao đổi sẽ không quay trở lại thị trường. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của bán lẻ.
Bán lẻ là khâu cuối cùng trong quá trình phân phối hàng hóa, vì vậy tại bán lẻ, người bán tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, người sử dụng.
Vốn lưu động của doanh nghiệp luân chuyển liên tục, do các hoạt động mua bán hàng hoá trong doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và liên tục.
Bán nhiều loại hàng hóa: Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp nhiều loại hàng hóa khác nhau, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa tăng cường hiệu quả kinh doanh.
Hệ thống kho của doanh nghiệp bán lẻ cũng được thiết kế đặc biệt đảm bảo luôn đủ hàng để cung cấp cho khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá. Đội ngũ nhân viên bán hàng cũng đươc đào tạo rất chuyên nghiệp, có đầy đủ các kỹ năng bán hàng.
3. Vai trò, chức năng:
Có thể thấy được một số vai trò, chức năng tiêu biểu, đặc trưng của hoạt động bán lẻ như sau:
• Nhà bán lẻ tạo ra mặt bằng trưng bày hàng hóa rộng lớn một cách đa dạng giúp khách hàng không phải di chuyển nhiều, thoải mái lựa chọn.
• Nhà bán lẻ nắm bắt trực tiếp thông tin từ khách hàng: nhu cầu, thị hiếu, phản hồi,... Do vậy bán lẻ là nguồn cung cấp thông tin chính xác, đáng tin cậy cho doanh nghiệp, từ đó đưa ra các kế hoạch sản xuất.
• Với nhu cầu cao về nguồn nhân lực, bán lẻ giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tệ nạn xã hội, đóng góp ngân sách nhà nước,...
• Lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hàng hóa luôn có sẵn mỗi khi người mua hàng cần. Người tiêu dùng vì thế không cần lưu trữ nhiều hàng hóa vì chúng luôn có sẵn ngoài cửa hàng. Ngoài ra, việc lưu trữ tại các cửa hàng bán lẻ cũng giúp cho doanh nghiệp giải quyết được vấn đề kho bãi (các cửa hàng bán lẻ giúp doanh nghiệp lưu trữ một lượng lớn hàng hóa)
4. Phân loại:
Tùy theo từng yếu tố mà có những cách phân loại khác nhau. Trên thế giới thể loại bán lẻ rất đa dạng như: Cửa hàng bán lẻ chuyên dùng, cửa hàng bách hóa, siêu thị, những người bán lẻ lộng giá, chợ phiên,tổ hợp thương mại, phòng trưng bày catalog,...

II) Thực trạng thị trường bán lẻ tại Việt Nam
Từ 1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Đặc biệt, năm 2015 sẽ là một năm đầy cơ hội và thách thức với ngành bán lẻ Việt Nam. Kể từ 1-11-2015, Việt Nam sẽ cho phép thành lập các công ty bán lẻ 100% vốn đầu tư nước ngoài (cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO). Năm 2015 là năm khu vực kinh tế chung ASEAN chính thức có hiệu lực cho phép các dòng tài nguyên, hàng hóa, vốn nhân lực… di chuyển tự do trong nội khối. Đặc biệt, hơn 10.000 loại hàng hóa từ các nước thành viên sẽ được loại bỏ thuế quan. Điều này mở ra vô vàn cơ hội cũng như thách thức mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt, thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ. 
1) Những ưu điểm và nguyên nhân của thị trường bán lẻ :
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2013, Việt Nam có 724 siêu thị, 132 trung tâm thương mại và 8546 chợ. Con số khá ấn tượng và còn tiếp tục tăng giúp cho thị trường bán lẻ Việt Nam sôi động, hứa hẹn nhiều tiềm năng.
Theo thống kê của Bộ Công thương Việt Nam về Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: tháng 12 năm 2014 ước đạt 273.292 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước, tính chung 12 tháng năm 2014, tổng mức bán lẻ đạt 2.945.277 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2013. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 12 tháng năm 2014 đạt mức tăng 6,3%.
Theo báo cáo về “Mức độ sôi động của các thị trường bán lẻ khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2014″ do công ty Tư vấn bất động sản Quốc tế CBRE công bố, Việt Nam là một trong những thị trường bán lẻ tiềm năng được đánh giá cao vào bậc nhất khu vực do cơ cấu dân số trẻ và sức mua ngày càng được cải thiện nhờ tầng lớp trung lưu bành trướng mạnh mẽ. 
Theo đánh giá của CBRE, Hà Nội lọt top 3 thành phố có thị trường bán lẻ sôi động nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. ( xem phụ lục 1)

Xem và tải link đầy đủ ở đây: Tìm hiểu về thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay - 8 điểm

Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét

MỞ ĐẦU

Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO sau hơn mười năm đàm phán, quá trình hội nhập với cộng đồng thương mại toàn cầu đã diễn ra gần một thập kỷ. Cùng với bước tiến quan trọng đó, vấn đề về sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp. Câu chuyện về nhãn hiệu bút bi Thiên Long bị vi phạm ở Trung Quốc, Cafe Trung Nguyên bị, hay ngay cả tổng công ty có quy mô lớn nhất Việt Nam là Petro Việt Nam cũng có nguycow bị tước đoạt nhãn hiệu trên thị trường của mình vì không có sự chú trọng đầy đủ tới việc bảo hộ nhãn hiệu. Thực tế cho thấy rằng, trong hoạt động thương mại, doanh nghiệp không chỉ cần chú trọng đến khâu sản xuất, mở rộng thị trường mà còn phải đặc biệt chú trọng đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu. Vì vậy, tác giả xin lựa chọn đề bài về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu để triển khai trong bài tiểu luận của mình.
Tình huống: “Công ty Pepsi Co, Inc là chủ sở  hữu nhãn hiệu “AQUAFINA và hình” ( số văn bằng 99173 ) cho các sản phẩm thuộc nhóm 32 và kiểu dáng công nghiệp “chai” ( số văn bằng 5238). Công ty Pepsi Co, Inc phát hiện trên thị trường có sản phẩm nước đóng chai mang nhãn hiệu “AQUARIA và hình” do Công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng sản xuất và đưa ra thị trường.
Với tư cách là đại diện theo ủy quyền của công ty Pepsi Co, Inc trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hãy soạn công văn cùng các tài liệu kèm theo ( nếu có ) gửi Thanh tra bộ Khoa học và Công nghệ để đề nghị xử lý vi phạm của  Công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng. ( Lưu ý: cần cung cấp đầy đủ những thông tin, tài liệu, chứng cứ,... để chứng minh hành vi xâm phạm cũng như đưa ra các đề xuất cụ thể về việc xử lý để bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho khách hàng của mình ).



NỘI DUNG

I) Cơ sở lý luận về bảo hộ nhãn hiệu
1. Khái niệm
Theo Luật SHTT Việt Nam năm 2005, khái niệm nhãn hiệu được quy định tại điều 4 như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
2. Chức năng của nhãn hiệu:
- Chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ
- Chức năng thông tin về nguồn gốc hàng hóa dịch vụ
- Chức năng thông tin về sản phẩm
- Chức năng thông tin về triển vọng của sản phẩm trên thị trường
3. Các điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam:
Không phải dấu hiệu bất kỳ nào cũng được đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu mà phải đáp ứng được các yêu cầu bảo hộ theo quy định của pháp luật:
“Điều 72. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Như vậy, có thể thấy những dấu hiệu có thể được bảo hộ là nhãn hiệu ở Việt Nam bị hạn chế so với quy định pháp luật thế giới. Pháp luật nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận các yếu tố hiện đại được bảo hộ là nhãn hiệu như âm thanh, mùi vị,... : Liên minh châu Âu cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cát cho bóng tennis, Mỹ cho phép Metro-Goldwin-Mayer Lion corporation đăng ký dấu hiệu âm thanh PRELUDE cho các nhóm mặt hàng thiết bị chăm sóc sức khỏe , máy ghi âm, ghi hình, máy bán hàng tự động,...  Nhưng tại Việt Nam, các dấu hiệu âm thanh, mùi vị, hương thơm,... chưa được công nhận là dấu hiệu bảo hộ là nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam. 
3.1 Điều kiện về dấu hiệu
+ Dấu hiệu phải nhìn thấy được: nghĩa là con người có thể cảm nhận được, nắm bắt được qua khả năng thị giác.
+ Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu theo quy định cụ thế tại Luật SHTT, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật SHTT và thông tư số 01/2007/BKHCN bao gồm:
- Dấu hiệu là chữ cái, chữ số:
- Dấu hiệu từ ngữ
- Dấu hiệu hình vẽ
- Dấu hiệu hình ảnh, kể cả hình ảnh ba chiều
- Dấu hiệu kết hợp các yếu tố trên
Một số dấu hiệu đặc biệt không được bảo hộ làm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam như: Màu sắc đơn lẻ; Các dấu hiệu tính giác; Các dấu hiệu khứu giác; Các dấu hiệu khác ( ví dụ: dấu hiệu xúc giác,...)
3.2 Điều kiện về khả năng phân biệt:
- Yêu cầu về khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu: là khi nhãn hiệu đó giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa dịch vụ của một chủ thể kinh doanh với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt nều thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 74. ( xem thêm phụ lục 3)
- Nhãn hiệu không trùng hay tương tự gây nhầm lẫn với các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của người khác . Các tiêu chí đánh giá quy định tại điểm 39.8 và 39.9 Thông tư 01/2007/ BKHCN

4. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu ( điều 73 Luật SHTT )
- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một số dấu hiệu 
- Các dấu hiệu làm sai lệch gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.

II)   Giải quyết vấn đề xâm phạm nhãn hiệu trong tình huống:
          Đơn gửi Thanh tra bộ Khoa học và Công nghệ để đề nghị xử lý vi phạm của Công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày.........., tháng..........., năm..........

ĐƠN ĐỀ NGHỊ XỬ LÝ VI PHẠM
Kính gửi: Thanh tra bộ Khoa học và Công Nghệ
Số 113, đường Trần Duy Hưng, Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Dấu xác nhận đơn

Tổ chức, cá nhân bị xâm phạm:
Tổ chức, cá nhân : Công ty Pepsi Co, Inc
Địa chỉ                 : 700 Anderson Hill Road, Puchase New York 10577, USA
Trụ sở tại Việt Nam: Lầu 5, Cao ốc Sheraton, Số 88 Đồng Khởi, Quận 1, TP.                                                     Hồ Chí Minh
Điện thoại            : 08.38219437            -             Fax: 08.38219436
Website, Email    : Website: www.suntorypepsico.vn

Đối tượng bị xâm phạm:
Nhãn hiệu: “AQUAFINA và hình”
Đã được cấp văn bằng bảo hộ số 99173

Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm:
Tổ chức, cá nhân  : Công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng
Địa chỉ                  :.........................................................................
Đối tượng xâm phạm:
Nhãn hiệu: AQUARIA và hình

Biện pháp yêu cầu xử lý:
+ Trong thời gian xác nhận hành vi xâm phạm, yêu cầu công ty Việt Hưng ngừng mọi hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm mang nhãn hiệu “AQUARIA và hình” trên thị trường
+ Đối với đối tượng vi phạm: Khi đã xác nhận có hành vi xâm phạm, đề nghị loại bỏ nhãn hiệu “AQUARIA và hình”, thu hồi và xử lý tất cả các sản phẩm có gắn yếu tố vi phạm.
+ Đối với chủ thể vi phạm: Xử phạt hành chính đối với Công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng về hành vi xâm phạm

                                                          Đại diện theo ủy quyền của chủ đơn
                                                                             Ls. Nguyễn Văn A
                                                                  
         
TÀI LIỆU CHỨNG MINH HÀNH VI XÂM PHẠM
1. Về mặt tổng quan nhãn hiệu:
          - Về mặt bố cục: hai nhãn hiệu đều trình bày dưới dạng dòng chữ cách điệu chạy ngang thân nhãn hiệu, chữ nằm trên phần hình. Cả hai nhãn hiệu đều sử dụng chữ trắng trên nền xanh, ba màu sắc chủ đạo trong hai nhãn hiệu đều là trắng, xanh da trời, đỏ. ( xem thêm phụ lục 1)
          - Về phần chính trong nhãn hiệu: Hai nhãn hiệu đều được đăng ký dưới dạng “chữ và hình”, lại đều cùng đăng ký cho mặt hàng là nước tinh khiết. Xét trên phương diện của người tiêu dùng, với rất nhiều thương hiệu nước khoáng cùng sử dụng hình ảnh chung, tương tự để quảng bá như thế, khi nhìn vào hai nhãn hiệu “AQUAFINA và hình” và “AQUARIA và hình” sẽ không ấn tượng về phần hình trong hai nhãn hiệu. Vì vậy, dấu hiệu hình đóng vai trò phần yếu và dấu hiệu chữ trong nhãn hiệu đóng vai trò phần mạnh trong việc tác động trực tiếp vào nhận thức của người tiêu dùng, gây cho họ sự chú ý và ấn tượng khi quan sát nhãn hiệu.
2.     Về mặt dấu hiệu hình:
          Phần hình trong nhãn hiệu “AQUARIA và hình” sử dụng hình ảnh dãy núi tương tự như hình ảnh dãy núi được cách điệu trong nhãn hiệu “AQUAFINA và hình”.
          Phần hình trong nhãn hiệu “AQUARIA và hình” sử dụng hình ảnh dải đỏ cách điệu, cùng đặt dưới dòng chữ lớn tương tự như dải đỏ trong nhãn hiệu “AQUAFINA và hình”, vì vậy có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
          Hơn nữa, như đã phân tích ở phần 1 về tổng quan nhãn hiệu, dấu hiệu hình đối với các loại nước tinh khiết thường không có nhiều giá trị trong việc phân biệt nhãn hiệu đố với người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ không để ý sự khác biệt rất nhỏ được kể trên, vì vậy, hoàn toàn có khả năng gây nhầm lẫn.
3.     Về mặt dấu hiệu chữ
          Sự tương tự giữa hai phần chữ “AQUAFINA” và “AQUARIA”:
-       Về cấu tạo: nhãn hiệu “AQUAFINA” và “AQUARIA” có số lượng chữ cái nhiều, gần như nhau ( 8 và 7 ), giống nhau đến 6 chữ cái. Đặc biệt, 4 chữ cái đầu hoàn toàn giống nhau, mà thông thường, đối với từ, người tiêu dùng thường có ấn tượng về những chữ cái đầu nhiều hơn.
-       Về cách phát âm được sử dụng trong thương mại của hai sản phẩm    thì 4 nguyên âm của hai từ đều giống nhau (a/a/i/a), cách phát âm cũng rất tương tự.
-       Về cách trình bày : hai chữ được cách điệu dưới hai phông chữ gần như nhau, đồng thời, hai chữ A ở cuối và đầu từ đều được viết cao hơn các chữ khác., chữ Q đều được cách điệu phần móc dài qua chữ A ( trong ký tự “QUA” )
-       Về ý nghĩa: hai từ đều khiến người ta liên tưởng đến nước ( vì trong tiếng Anh, aqua nghĩa là nước )
           Hơn nữa, người tiêu dùng với một mức độ quan sát vừa phải, không có cơ hộ so sánh trực tiếp hai nhãn hiệu trong thế đối sánh sẽ rất khó để nhận biết và ghi nhớ sự khác nhau này. Như vậy, sự tương tự lớn trong phần chữ của hai nhãn hiệu, chắc chắn sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
          4. Phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu “AQUAFINA và hình”:
          Nhãn hiệu “AQUAFINA và hình” theo đăng ký số  99173 nhóm 32: Bia; nước khoáng, nước ga và các loại đồ uống không có cồn; đồ uống hoa quả và nước ép hoa quả; xi-rô và các chế phẩm khác để làm đồ uống.
          Như vậy sản phẩm “AQUARIA và hình” đã trùng về bản chất, chức năng, công dụng và có cùng thị trường tiêu thụ với hàng hóa thuộc phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu “AQUAFINA và hình”.
          5. Cơ chế bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng:
          Nhãn hiệu AQUAFINA là nhãn hiệu nổi tiếng thế giới, được sử dụng rộng rãi và biết đến tại nhiều quốc gia, và được đánh giá là một trong ba nhãn hiệu nước đóng chai bán chạy nhất thế giới ( gồm có Aquafina của PepsiCo, Dasani của Coca-Cola và Pure Life của Nestle ).

          III) Các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho công ty Pepsi Co, Inc:
·        Gửi thư cảnh cáo đến bên bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm và yêu cầu họ:
- Ngừng ngay lập tức việc thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;
- Thu hồi các hàng hóa đã được lưu thông trên thị trường có dấu hiệu xâm phạm;
- Tiêu hủy sản phẩm hoặc nhãn mác có dấu hiệu xâm phạm
·        Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật: gửi đơn yêu cầu xử lý vi phạm tới thanh tra bộ Khoa học và Công nghệ ( như trên )
·        Kiện công ty cổ phần chế biến thực phẩm và nước giải khát Việt Hưng về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ra tòa án có thẩm quyền.
·        Yêu cầu bồi thường do đã có hành vi xâm phạm nhãn hiệu, yêu cầu bồi thường thiệt hại ( nếu có ) )

IV) Một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu
          Hoàn thiện các yếu tố, tiêu chuẩn cụ thể để xác định và đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu: Mặc dù đã có những quy định của Luật SHTT và một số văn bản hướng dẫn, nhưng tiêu chuẩn “thế nào là hai nhãn hiệu tương tự đến mức có khả năng gây nhầm lẫn” vẫn còn rất nhiều tranh cãi, ý kiến không nhất quán. Vì vậy để tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng nhận biết và đảm bảo tính chính xác trong việc đăng ký các nhãn hiệu của chủ thể, việc xây dựng cụ thể hệ thống các yếu tố, cách thức đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu là rất cần thiết.
          Đảm bảo tính thống nhất trong việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu giữa các cơ quan có thẩm quyền: cần nâng cao hiều biết pháp lý cho các cá nhân có thẩm quyền như thanh tra chuyên ngành Khoa học và Công nghệ, Cơ quản quản lý thị trường, Hải quan, thẩm phán Tòa án nhân dân có chức năng giải quyết các vụ việc liên quan đến nhãn hiệu. Cần phân công lại chức năng, quyền hạn của từng cơ quan để tránh tình trạng chồng chéo. Từ đó giúp hạn chế những kết luận bất đồng của các cơ quan về khả năng phân biệt của nhãn hiệu.
          Nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng thông qua các hoạt động marketing, quảng bá nhãn hiệu, tổ chức các hội chợ hàng hóa giúp người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm chính hãng với hàng nhái, hàng kém chất lượng.

KẾT LUẬN


          Vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu vẫn còn đang gặp rất nhiều khó khăn do sự phát triển phức tạp của nền kinh tế, môi trường kinh doanh khốc liệt cũng như sự hạn chế trong các quy phạm pháp luật. Để nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập nhanh hơn với thế giới, để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp cũng như quyền lợi của người tiêu dùng, chắc chắn sẽ còn rất nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp và cơ quan chức năng trong vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung.

Tải bản đầy đủ ở link drive sau: Luật sở hữu trí tuệ về so sánh nhãn hiệu có hành vi xâm phạm quyền SHTT - 8 điểm

Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét
Older Posts
Cố gắng và Hối hận, cái nào đau đớn hơn?
- An Nhiên -

Labels

Bài tập lớn (21) Chuyện thường ngày (17) Tips để học ít điểm cao (13) English post (9) Chuyện bên lề (4) Chuyện đi làm (2) Review sách (2) Bài thu hoạch diễn án (1) Học Luật sư (1) Q&A (1)

recent posts

Cảm ơn đã ghé qua

Đi qua hãy để lại dấu ấn

Để ủng hộ mình, các bạn có thể click vào quảng cáo trên blog nhé. Cảm ơn các bạn đã quan tâm và ủng hộ.
Twitter instagram pinterest

Created with by BeautyTemplates| Distributed By Gooyaabi Templates